Chuyển đổi ngôn ngữ

Bạn bè bốn phương

Kho tài nguyên

Hỗ trợ trực tuyến

  • (thuongyenhonb@gmail.com)

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Thành viên trực tuyến

    2 khách và 0 thành viên

    Tin mới nổi bật.

    Từ điển trực tuyến


    Tra theo từ điển:



    Chào mừng quý vị đến với Website Trần Quốc Thường..

    Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tư liệu của Thư viện về máy tính của mình.
    Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay ô bên phải.
    Gốc > Sự kiện Lịch sử > Việt Nam >

    TƯ LIỆU VỀ:Thành nhà Hồ

     

     

    Triều Hồ

    Nhà Hồ là triều đại phong kiến trong lịch sử phong kiến Việt Nam, bắt đầu khi Hồ Quý Ly lên ngôi năm 1400 sau khi giành được quyền lực từ tay nhà Trần và chấm dứt khi Hồ Hán Thương bị quân Minh bắt vào năm 1407 - tổng cộng là 7 năm. Quốc hiệu Đại Việt đổi thành Đại Ngu năm 1400.

    HỒ QUÝ LY – NHÀ CẢI CÁCH VĨ ĐẠI CỦA LỊCH SỬ CỔ TRUNG ĐẠI VIỆT NAM

    năm 1400, nói theo cách của sử cũ thì Hồ Quý Ly đã soán vị (簒 位)[1] ngôi báu của họ Trần và lập ra nhà Hồ (1400-1407). Với các sử thần xưa, soán vị là hành vi cực xấu nên ai cũng đồng lòng lên án. Nhưng, dù chỉ tồn tại trong một thời gian rất ngắn thì nhà Hồ vẫn cứ là một thực thể khách quan của lịch sử, không chép tới cũng có nghĩa là không biết tới, nhất định sẽ bị cho làkiến văn thiển lậu (见 聞 浅 陋)[2], chép tới với đầy đủ các  niên kỷ (年 紀)[3] tương tự như những triều đại chính thống khác, đương nhiên sẽ bị xếp vào loại chính tà bất minh (正 邪 不 明)[4], khó thoát khỏi búa rìu phán xét của các thế hệ sử thần. Bởi lý do rõ ràng này, Dương Nhật Lễ[5], Hồ Quý Ly, Mạc Đăng Dung[6]…vừa bị lên án khắt khe lại vừa bị đưa vào phần phụ chép. Trong nhiều thư tịch cổ, nhà Hồ còn bị gọi là nhà nhuận Hồ (閏 胡)[7].

       Trong lịch sử cổ trung đại Việt Nam nói riêng và thế giới nói chung, các cuộc soán vị hoàn toàn không phải là hiện tượng cá biệt, vì thế các nhà sử học Việt Nam hiện đại đã cùng nhau đánh giá lại những lực lượng từng chiếm giữ vũ đài chính trị nước nhà sao cho công bằng và thỏa đáng hơn. Trong bối cảnh chung ấy, nhà Hồ được đưa ra thảo luận thuộc vào hàng sớm nhất và cũng sôi nổi nhất.

       Không ai phủ nhận việc Hồ Quý Ly đã lật đổ nhà Trần nhưng về nhận thức luận, có hai vấn đề quan trọng cần phải được thống nhất. Một là từ giữa thế kỷ XIV trở đi, quá trình đổ nát của nhà Trần đã diễn ra ngày một trầm trọng, việc loại bỏ nhà Trần trở thành một nhu cầu cấp thiết của đương thời, nếu Hồ Quý Ly không soán vị, nhất định cũng sẽ có người khác làm công việc tất yếu đó. Hai là điều cần nhấn mạnh nhất ở đây không phải Hồ Quý Ly đã giành ngôi mà là sau đó, Hồ Quý Ly đã làm gì và những việc ông làm có tác động như thế nào đối với tình hình đất nước.

     

       Thực ra, ảnh hưởng của Hồ Quý Ly đối với chính sự đương thời đã thể hiện rất rõ ngay khi ông còn là võ quan bậc thấp của triều đình nhà Trần và tầm vóc những ảnh hưởng đó ngày càng trở nên lớn lao hơn. Trên hoạn lộ thênh thênh rộng mở và đặc biệt là sau khi giành được ngôi, Hồ Quý Ly đã nhiều lần xin triều đình ban hành rồi đến lượt chính ông ban hành hàng loạt biện pháp canh tân đất nước. Xưa nay, dù thái độ yêu ghét đối với ông có thể rất khác nhau nhưng hầu như bất cứ ai cũng đều thừa nhận Hồ Quý Ly là một nhà cải cách thực sự táo bạo và tài ba. Cóp nhặt những ghi chép tản mạn của sử cũ, chúng ta có thể bước đầu khái quát cải cách của Hồ Quý Ly như sau :

    1.      Chính trị

       Từ đầu thời Lý, một mô thức tổ chức của bộ máy nhà nước hoàn toàn mới đã chính thức được xác lập, đó là nhà nước của quý tộc. Trước thời Lý, mô thức chung của bộ máy nhà nước là nhà nước của tướng lĩnh. Trải qua hơn bốn thế kỷ tồn tại với nhiều cống hiến to lớn, đến đây bộ máy chính quyền quốc gia theo mô thức nhà nước của quý tộc đã bộc lộ hàng loạt sự bất cập và hạn chế :

    -         Đội ngũ quý tộc ngày càng xa rời chính sự, hoang chơi và nhất là những tố chất rất cần có của lực lượng nắm quyền điều khiển vận mệnh quốc gia bị mai một, uy tín còn lại của họ Trần chỉ là dư âm những chiến công vang dội thế kỷ XIII.

    -         Giáo dục Nho học đã có một lịch sử phát triển lâu dài và đã cung cấp cho bộ máy nhà nước nhiều thế hệ quan lại xuất thân khoa cử, giàu tâm huyết và giàu năng lực nhưng họ bị che khuất và bị lấn át bởi quyền uy của quý tộc.

    -         Khởi đầu, Hồ Quý Ly là ngoại thích của nhà Trần, muốn nhanh chóng khẳng định vị thế của mình, tất nhiên ông phải ra sức tìm cách hạn chế để rồi đẩy lùi quyền lực chính trị của quý tộc họ Trần.      

       Trên cơ sở nhận thức và đánh giá tình hình như vậy, Hồ Quý Ly đã từng bước xây dựng một mô thức tổ chức nhà nước hoàn toàn mới : nhà nước của quan lại. Trăm họ trong khắp thiên hạ, bất cứ ai có khả năng phò vua giúp nước cũng đều có thể được tuyển dụng làm quan chứ không nhất thiết cứ phải xuất thân từ quý tộc. Về khách quan, mô thức này có tác dụng mở đường cho Nho giáo phát triển mạnh mẽ hơn nên được Nho gia nhiệt liệt tán thành. Trên vũ đài tư tưởng, một cuộc đổi thay lớn đã diễn ra. Trước đó, giữ vị trí quan trọng hàng đầu là Phật giáo, kế đến là Đạo giáo và sau cùng là Nho giáo, kể từ đây Nho giáo vươn lên chiếm lĩnh vị trí quan trọng hàng đầu, sau đó mới đến Phật giáo và Đạo giáo. Sang đầu thế kỷ XV, Nho giáo trở thành ngọn cờ tư tưởng độc tôn, Phật giáo và Đạo giáo trở về với cộng đồng xã hội[8]. Mô thức nhà nước của quan lại tồn tại mãi cho đến hết thời trung đại của lịch sử Việt Nam.

       Cải cách chính trị của Hồ Quý Ly được tiến hành với nhiều phương pháp khác nhau, lúc khôn khéo và kín đáo, lúc thẳng thắn và công khai, lúc táo bạo và quyết liệt, lúc lợi dụng những khe hở, lúc dồn tập tấn công từ nhiều hướng…Hồ Quý Ly vừa là người khởi xướng chủ trương lại cũng vừa là người trực tiếp chỉ huy thực hiện. Nhìn lại toàn bộ quá trình thao túng để rồi lật đổ nhà Trần và xây dựng nhà Hồ, chúng ta có thể tạm thời liệt kê mấy sự kiện tiêu biểu sau đây :  

    -         Tạo lập, củng cố và không ngừng mở rộng mối quan hệ hôn nhân rất khác thường với hoàng tộc họ Trần[9], thông qua đó, vị thế chính trị của Hồ Quý Ly ngày càng được nâng cao.

    -         Dời đô về khu vực động An Tôn, phủ Thanh Hoa, nay thuộc hai xã Vĩnh Tiến và Vĩnh Long, huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hóa. Sự kiện này diễn ra vào mùa xuân năm Đinh Sửu (1397) và được sử cũ ghi lại[10]. Kinh đô mới là Tây Kinh, Tây Giai hay Tây Đô nhưng dân gian vẫn thường gọi là thành nhà Hồ. Với sự kiện này, nhà Trần bị tách khỏi cơ sở xã hội gắn bó lâu dài, ngược lại, Hồ Quý Ly có điều kiện tiếp cận với cơ sở xã hội của mình ngay tại quê nhà[11]. Thăng Long từ đó được gọi là Đông Đô hoặc Đông Quan.

    -         Mùa hè năm Đinh Sửu (1397), Hồ Quý Ly đã nhân danh Hoàng Đế Trần Thuận Tông xây dựng lại quy chế hoạt động cho hệ thống quan chức ở trong cũng như ngoài triều đình. Đây là cách thu hẹp phạm vi quyền lực của quý tộc họ Trần và cũng là cách để khẳng định mô thức nhà nước của quan lại.  

    -         Lợi dụng sự nông cạn và quá cả tin của Thượng Hoàng và Hoàng Đế nhà Trần để lần lượt tìm cách thủ tiêu những nhân vật không cùng phe cánh hoặc đang lập mưu chống Hồ Quý Ly, bất kể họ là ai. Những năm cuối thế kỷ XIV đã có không ít cuộc thanh trừng đẫm máu diễn ra[12].

    -         Năm Kỷ Mão (1399), với hành vi bức tử Hoàng Đế Trần Thuận Tông (1388-1398) cũng chính là con rể của mình và tự xưng 国 祖 章 皇 (Quốc Tổ Chương Hoàng) thì việc Hồ Quý Ly xóa bỏ triều Trần chỉ còn là thời điểm thích hợp và thời điểm thích hợp đó đã đến vào đầu năm 1400. Vào năm này, nhà Trần bị lật đổ, Hồ Quý Ly chính thức lên ngôi Hoàng Đế, khai sinh ra nhà Hồ.

    -         Ngay khi vừa lên ngôi, Hồ Quý Ly đã đổi quốc hiệu là Đại Ngu (大 虞 nghĩa là niềm an vui lớn), dùng niên hiệu mới là Thánh Nguyên (聖 元) nhưng ông chỉ ở ngôi Hoàng Đế chưa đầy 10 tháng rồi truyền ngôi cho con trai thứ là Hổ Hán Thương (胡 漢 蒼) còn mình thì lên làm Thái Thượng Hoàng. Như vậy là mô thức tổ chức nhà nước tuy khác trước nhưng chế độ Thái Thượng Hoàng  Hoàng Đế vốn có từ thời Trần vẫn được bảo lưu.

    -         Cuối năm Tân Tỵ (1401), Hồ Quý Ly cho ban hành hai công trình rất quan trọng là Đại Ngu quan chế (大 虞 官 制) và Đại Ngu hình luật (大 虞 型 律). Công trình thứ nhất (Đại Ngu quan chế) có ý nghĩa đặt nền tảng cho toàn bộ chế độ đối với hoạt động của đội ngũ quan lại nhà Hồ. Công trình thứ hai (Đại Ngu hình luật) có giá trị xác định luật pháp của nước Đại Ngu, thay thế cho các bộ luật trước đó như Hình thư (thời Lý) và Hình thư(thời Trần).

       Như vậy là về chính trị, những cải cách của Hồ Quý Ly về cơ bản đã đạt được hai mục tiêu quan trọng nhất. Một là xóa bỏ triều Trần, triều đại đã có lịch sử tồn tại 175  năm nhưng đến đây đã hoàn toàn trở nên lỗi thời và xóa bỏ luôn cả mô thức tổ chức nhà nước của quý tộc từng được coi là chuẩn mực trong nhiều thế kỷ của Đại Việt. Hai là lập ra nhà Hồ, đồng thời, lập ra mô thức tổ chức nhà nước của quan lại với hệ thống nhũng chế định ngày càng chặt chẽ.

     

    2.      Quân sự

       Có lẽ do khởi nghiệp từ một võ quan, hơn thế nữa, từng gắn bó rất lâu dài với quân đội nên Hồ Quý Ly luôn tỏ ra coi trọng việc tổ chức, huấn luyện và tăng cường thiết bị cho lực lượng vũ trang.Hồ Nguyên Trừng (胡 元 澄 : con trai trưởng của Hồ Quý Ly) đã hợp tác đắc lực và đầy hiệu quả trong quá trình thực hiện chủ trương quan trọng này. Nếu Hồ Quý Ly là cha đẻ của những ý tưởng táo bạo thì Hồ Nguyên Trừng là một chuyên gia kỹ thuật rất tài hoa. Hai cải cách nổi bật nhất về quân sự của nhà Hồ được thực hiện lúc bấy giờ là tăng cường quân số và cải tiến vũ.

       Về tăng cường quân số, Hồ Quý Ly ngày đêm trăn trở, khát khao xây dựng đội quân đông đến một triệu người. Sử cũ có đoạn : 季 犛 有 與 群 臣 言 曰 安 得 百 萬 兵 以 敵 北 寇 (Quý Ly hữu dữ quần thần ngôn viết an đắc bách vạn binh dĩ địch Bắc khấu) nghĩa là (Hồ) Quý Ly có nói với quần thần rằng làm sao có được một triệu quân để chống giặc cướp ở phương Bắc[13]. Lời ấy tỏ rõ Hồ Quý Ly đã nhận thức được mưu đồ bành trướng của nhà Minh nhưng chủ trương xây dựng đội quân một triệu người là rất xa lạ. Xa lạ vì dân số Đại Ngu lúc ấy chỉ có khoảng già năm triệu người[14], làm sao có thể tuyển lựa được một triệu người nhập ngũ. Xa lạ vì trước đó, nhà Trần đã từng buộc phải đối đầu với quân xâm lược Mông Nguyên khét tiếng tàn bạo, thiện chiến và lực lượng cực lớn nhưng Trần Hưng Đạo lại chủ trương 兵 貴 精不貴多 (binh quý tinh bất quý đa) nghĩa là quân đội cốt ở tinh nhuệ chứ không phải ở số đông[15]. Để thực hiện ý nguyện của cha, năm 1401, Hồ Hán Thương đã cho kiểm kê dân số, lập lại sổ hộ tịch, con trai từ hai tuổi trở lên đều phải ghi tên vào sổ để lớn lên thì đợi mệnh nhập ngũ. Quyết tâm và táo bạo của Hồ Quý Ly là điều không ai có thể phủ nhận được nhưng cải cách này tỏ rõ Hồ Quý Ly đã đánh giá sai vai trò của con người trong chiến tranh. Nhân tố quyết định thắng lợi của chiến tranh là con người, nhưng nói đến con người, trước hết phải nói đến tinh thần chiến đấu, lý tưởng chiến đấu và trình độ chiến đấu chứ không phải ở số đông. Cuộc kiểm kê dân số này đã gây nên những hệ lụy và bất ổn trong đời sống tâm lý xã hội, tạo ra một khoảng cách không nên có giữa triều đình với nhân dân đương thời. Lời khảng khái của Hồ Nguyên Trừng nói cuối năm Ất Mão (1405) quả không sai : 臣 不 怕 戰 但 怕 民 心 從 違 耳 (thần bất phạ chiến đản phạ dân tâm tùng vi nhĩ) nghĩa là thần không sợ đánh, chỉ sợ lòng dân chia lìa thôi[16].

       Về cải tiến vũ khí, nhà Hồ có hai cống hiến xuất sắc, được lịch sử đánh giá rất cao, đó là chế tạo thuyền hai tầng và đúc súng. Thực ra, trước thời nhà Hồ khoảng 2000 năm, cư dân tiền sử đã biết chế tạo thuyền. Những dấu tích để lại trong khu mộ cổ Việt Khê (Hải Phòng) là minh chứng cụ thể. Trải nhiều thế kỷ, do nhu cầu tự thân của tổ chức giao thông, của đời sống kinh tế và của hoạt động quân sự, vô số loại thuyền với nhiều kiểu dáng, chất liệu và mục đích sử dụng khác nhau đã được chế tạo. Quân đội ta từng tỏ rõ tài năng sử dụng thuyền chiến để đánh những trận quyết chiến chiến lược lừng danh như trận Bạch Đằng năm 938 thời Ngô Quyền, trận Bạch Đằng năm 981 thời Lê Hoàn, trận Bạch Đằng năm 1288 thời Trần Nhân Tông…Ngay trước thời nhà Hồ, thuyền chiến của Đại Việt đã gồm nhiều chủng loại phong phú khác nhau[17] và luôn tỏ ra rất lợi hại. Trên cơ sở tiếp nhận các thành tựu kỹ thuật đóng thuyền cũ, Tả Tướng Quốc của nhà Hồ là Hồ Nguyên Trừng đã chế ra loại thuyền đóng bằng đinh sắt và có hai tầng, tầng trên thoáng đãng dành riêng cho lính chiến, tầng dưới dùng cho lính chèo và làm kho, lính chiến và lính chèo không ai gây trở ngại cho ai cả. Tả Tướng Quốc Hồ Nguyên Trừng cũng là người đã chế tạo ra rất nhiều loại súng thần cơ lớn nhỏ khác nhau và các loại súng thần cơ này được nhà Minh đánh giá rất cao. Tóm lại, vũ khí của quân đội nhà Hồ rất hiện đại so với các nước trong khu vực lúc bấy giờ. Tuy nhiên, nếu xem xét thật kỹ cách bài binh bố trận trong cuộc kháng chiến chống quân Minh xâm lược, hậu thế cũng có thể dễ dàng nhận thấy nhà Hồ đã nhận định chưa đúng về vai trò của vũ khí trong chiến tranh. Vũ khí và các trang thiết bị quân đội có vị trí cực kỳ quan trọng nhưng nhân tố giữ vai trò quyết định thắng lợi bao giờ cũng là con người.  

    3.      Kinh tế và xã hội

       Nói đến quý tộc họ Trần là nói đến điền trang–thái ấp, nói đến chế độ bóc lột gia nô và nói đến quy mô sở hữu lớn (tất nhiên chỉ lớn so với mức độ phổ biến của xã hội Đại Việt lúc bấy giờ). Muốn đẩy lùi và dần dần triệt tiêu uy thế của quý tộc họ Trần, Hồ Quý Ly phải tấn công không khoan nhượng vào các đặc quyền đặc lợi đó. Hồ Quý Ly đã ban hành ba chính sách cải cách về kinh tế và xã hội rất nổi bật là hạn điền, hạn nô và phát hành tiền giấy với những nội dung khá cụ thể.

       Một là chính sách hạn điền. Tháng 6 năm Đinh Sửu (1397), theo ý kiến đề nghị của Hồ Quý Ly, Hoàng Đế Trần Thuận Tông đã ban chiếu hạn danh điền (限 名 田) nghĩa là hạn chế ruộng có tên chủ nhân, tức ruộng tư. Sử cũ viết : 大王 長公主 田 無 限 以 至 庶 民 田 十 畝 多 者 許 從 便 得 贖 罪 貶 黜 亦 如 之 餘 者 上 進 入 官 (Đại Vương Công Chúa Trưởng điền vô hạn, dĩ thứ dân điền thập mẫu, đa giả hứa tùng tiện, đắc thục tội biếm truất diệc như chi, dư giả thượng tiến nhập quan) nghĩa là : Đại Vương và Công Chúa Trưởng ruộng vô hạn định, đến thứ dân thì ruộng 10 mẫu, ai có nhiều hơn thì cho tùy ý dùng ruộng ấy để chuộc tội, (quan lại) bị biếm chức hay mất chức cũng được làm như vậy, ruộng thừa ra phải dâng nạp cho triều đình[18]. Chính sách này đã dánh mạnh vào hệ thống điền trang thái ấp của quý tộc họ Trần, hạ gục uy thế của họ Trần và ở một chừng mực nhất định nào đó, cải cách táo bạo này chẳng những cần thiết mà còn có những tác dụng tích cực rất đáng ghi nhận. Nhưng, vấn đề chủ yếu nhất, bao trùm nhất là nhu cầu ruộng đất của đông đảo các tầng lớp nhân dân thì chưa được đề cập tới. Bởi lẽ này cải cách hạn danh điền chẳng những bị quý tộc họ Trần phản đối mà phần đông xã hội cũng tỏ ra hờ hững.

       Hai là chính sách hạn nô. Năm 1401, chính Hồ Hán Thương đã ban hành chính sách quan trọng này. Sử cũ viết : 漢 蒼 立 限 名 家 奴 法 照 依 品 級 有 差 餘 者 上 進 每 人 還 鈔 五 緡 應 得 者 出 呈 三 大 嘱 書 外 国 奴 無 例 (Hán Thương lập hạn danh gia nô pháp, chiếu y phẩm cấp hữu sai dư giả thượng tiến mỗi nhân hoàn sao ngũ mân, ứng đắc giả xuất trình tam đại chúc thư, ngoại quốc nô vô lệ), nghĩa là : (Hồ) Hán Thương đặt phép hạn chế gia nô riêng, chiếu theo phẩm cấp để cho số lượng khác nhau, ai có dư ra phải dâng nạp lên (cho nhà nước), mỗi gia nô được trả 5 quan tiền giấy. Người có gia nô phải phải xuất trình chúc thư của ba đời. Gia nô là người nước ngoài thì không theo lệ này[19]. Nhà Hồ cũng buộc những người có gia nô hợp pháp phải khắc chữ vào trán của từng gia nô để làm dấu hiệu riêng[20]. Đây cũng là một trong những cải cách rất táo bạo. Nói theo cách người xưa thì nhà Hồ đã “làm một việc mà được hai điều lợi”. Lợi thứ nhất là quý tộc họ Trần bị mất gia nô, quyền lực kinh tế và xã hội bị thu hẹp, địa vị chính trị cũng theo đó mà bị xóa bỏ gần như hoàn toàn. Lợi thứ hai là uy thế của nhà Hồ được khẳng định và tăng cường, các thế lực chống đối khó có cơ hội trỗi dậy. Tuy nhiên, cải cách hạn danh gia nôcủa nhà Hồ cũng đã bộc lộ một số hạn chế rất dễ thấy. Vấn đề quan trọng hàng đầu của xã hội lúc này là giải phóng gia nô nhưng cải cách hạn danh gia nô lại không đề cập tới, do đó cũng khó tránh khỏi sự phản ứng. Quý tộc họ Trần mất gia nô nên phản ứng. Gia nô bị chuyển chủ (từ tư nhân sang nhà nước) chứ không được giải phóng nên họ cũng phản ứng. Nhưng, sự phản ứng yếu ớt và phân tán không đủ để khiến cho nhà Hồ phải bận tâm.

       Ba là phát hành tiền giấy. Chính sử xưa cho biết, nhân danh Hoàng Đế Trần Thuận Tông, tháng 4 năm Bính Tý (1396), Hồ Quý Ly đã cho in và phát hành tiền giấy, gọi là thông bảo hội sao(通 寶 會 鈔). Trong lịch sử Việt Nam, ông là người đầu tiên cho in và phát hành tiền giấy. Trong điều kiện còn có quá nhiều hạn chế về trình độ chế tạo giấy và kỹ thuật in ấn cuối thế kỷ XIV, đây là quyết định rất táo bạo. Tiền giấy nhà Hồ gồm có 7 loại với thể thức trang trí cụ thể như sau :

    -         Tờ 10 đồng vẽ rồng.

    -         Tờ 30 đồng vẽ sóng.

    -         Tờ 1 tiền vẽ mây.

    -         Tờ 2 tiền vẽ rùa.

    -         Tờ 3 tiền vẽ lân.

    -         Tờ 5 tiền vẽ phượng.

    -         Tờ 1 quan[21] vẽ rồng.

       Đi kèm với việc phát hành thông bảo hội sao, hai quyết định quan trọng khác cũng đã lập tức được ban hành, một là bắt mọi người phải dùng tiền giấy chứ không ai được dùng tiền đồng, hai là mỗi quan tiền đồng đổi được 1,2 quan tiền giấy. Thực ra ở Trung Quốc vào thời nhà Đường (618 - 907)[22], tiền giấy cũng đã từng được phát hành nhưng chỉ một thời gian rất ngắn đã bị đình chỉ. Nói khác hơn, trước nhà Hồ, tiền giấy tuy không được sử dụng lâu dài nhưng dẫu sao cũng đã có rồi. Thực tế đó rất đáng lưu ý nhưng cũng chẳng phải vì thế mà chúng ta đánh giá thấp tính táo bạo của cải cách này. Điều đáng để bận tâm là ở chỗ, xã hội lúc đó còn rất xa lạ với tiền giấy và cũng rất ngại dùng tiền giấy vì khó bảo quản khi để dành. Đó là chưa nói tự thân kinh tế thương nghiệp đương thời cũng chưa có nhu cầu sử dụng tiền giấy. Có người phát biểu rằng đây là chủ trương nhằm thu gom đồng về đúc vũ khí. Chúng tôi chưa tìm thấy chứng cứ xác đáng cho kết luận này nhưng nếu quả đúng như vậy thì rất tiếc. Kinh tế và quốc phòng luôn có mối quan hệ rất chặt chẽ, thậm chí có khi còn là tiền đề thắng lợi của nhau nhưng không thể là mục đích của nhau, làm kinh tế vì mục đích quốc phòng hay làm quốc phòng vì mục đích kinh tế đều nguy hại như nhau.

    4.      Đối ngoại

       Ngay khi vừa mới được thành lập, nhà Hồ đã gặp không ít khó khăn cả trong đối nội lẫn đối ngoại mà một trong những lý do công khai nổi bật nhất chính là sự soán vị ngôi báu của họ Trần. Đối nội và đối ngoại là hai lĩnh vực hoàn toàn khác nhau nhưng lại có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Người trong nước phản đối nhà Hồ nhưng lực bất tòng tâm, họ bỏ chạy ra nước ngoài và thậm chí còn cầu cứu nước ngoài, khiến thình hình chung của quan hệ đối ngoại trở nên căng thẳng. Bấy giờ, đáng ngại nhất là bang giao với nhà Minh và với Chiêm Thành.

          Đối với nhà Minh, đây là thời cực thịnh của họ. Chu Nguyên Chương (1328 - 1398) là người đã có công tập hợp và lãnh đạo nhân dân Trung Quốc đánh đuổi quân đô hộ nhà Nguyên ra khỏi bờ cõi và lập ra nhà Minh vào năm 1368. Ông là Hoàng Đế đầu tiên của nhà Minh, ở ngôi 30 năm (1368 -1398), mất năm 1398, hưởng thọ 70 tuổi, miếu hiệu là Minh Thái Tổ. Dưới thời trị vì của ông, xã hội Trung Quốc chẳng những nhanh chóng được ổn định mà còn phát triển khá mạnh mẽ. Các đời Hoàng Đế nối ngôi sau đó như Minh Huệ Đế (1398 - 1402) và Minh Thành Tổ (1402 - 1424) đã đưa nhà Minh đến thời thịnh trị. Khi triều đình nhà Minh đang khát khao bành trướng xuống phương Nam thì có một số người vì quyết không đội trời chung với nhà Hồ nên đã sang Trung Quốc cầu cứu và nhà Minh lập tức tìm cách lợi dụng họ. Tình hình biên giới mặt Bắc trở nên bất ổn và nhà Hồ đã tỏ ra rất cố gắng tìm kế sách để đối phó. Về danh nghĩa công khai, Hồ Quý Ly trình bày với nhà Minh là họ Trần đã tuyệt tự, không có người nối nghiệp nên cháu ngoại là Hồ Hán Thương tạm lên nắm quyền trông coi việc nước. Sử cũ viết : 季 犛 遣 使 如 明 先 是 漢 蒼母 徽 寜 公 主 追 尊 皇 太 后 陳 明 宗 之 女 也 被 嫁 驸 驥 郞 陳 仁 榮 藝 宗 奪 取 以 嫁 季 犛 生 欽 聖 皇 后 及 漢 蒼 至 是 遣 使 告 明 稱 陳 氏 已 絕 漢 蒼 明 宗 外 孫 暫 權 国 事 (Quý Ly khiển sứ như Minh. Tiên thị Hán Thương mẫu Huy Ninh Công Chúa, truy tôn Hoàng Thái Hậu. Trần Minh Tông chi nữ dã bị giá Phò Ký Lang Trần Nhân Vinh. Nghệ Tông đoạt thủ, dĩ giá Quý Ly, sinh Khâm Thánh Hoàng Hậu cập Hán Thương. Chí thị khiển sứ cáo Minh xưng Trần thị dĩ tuyệt, Hán Thương Minh Tông ngoại tôn tạm quyền quốc sự), nghĩa là : (Hồ) Quý Ly sai sứ sang nhà Minh (Trung Quốc). Trước đó, mẹ của (Hồ) Hán Thương là Công Chúa Huy Ninh, sau được truy tôn là Hoàng Thái Hậu, nguyên là con gái của Trần Minh Tông, được đem gả cho quan Phò Ký Lang Trần Nhân Vinh. (Khi Trần Nhân Vinh mất), (Trần) Nghệ Tông không cho Công Chúa Huy Ninh thủ tiết mà gả cho (Hồ) Quý Ly, bà sinh ra Khâm Thánh Hoàng Hậu và (Hồ) Hán Thương. Đến đây sai sứ sang báo với nhà Minh rằng họ Trần đã bị tuyệt tự, (Hồ) Hán Thương là cháu ngoại của Trần Minh Tông tạm quyền trông coi việc nước[23]. Nhà Hồ còn có nhiều biện pháp khác nữa nhưng xu hướng chung vẫn là ra sức tìm cách xoa dịu căng thẳng và tránh họa binh đao, tạo điều kiện thuận lợi cho công cuộc chuẩn bị lực lượng đối phó. Đó là giải pháp cần thiết và đúng đắn. Cuối năm 1406, nhà Minh vẫn xua quân sang xâm lược nước ta nhưng đó là dã tâm của họ, nhà Hồ dù cố gắng đến đâu cũng không thể nào ngăn chặn được.

       Đối với Chiêm Thành, ngay từ khi mới được thành lập, nhà Hồ đã thực hiện chính sách dùng sức mạnh để lấn át. Chính sách này vốn dĩ đã có từ nhiều triều đại trước, nhà Hồ chỉ tiếp nối một cách quyết liệt hơn và cũng đạt được những kết quả lớn hơn. Bấy giờ có hai sự kiện nổi bật nhất :

    -         Một là sự kiện diễn ra vào giữa năm Tân Tỵ (1401). Nhà Hồ sai tướng Hồ Tùng đem quân đi đánh Chiêm Thành nhưng Hồ Tùng đã thất bại. Không thể chấp nhận thực tế này, tháng 3 năm Nhâm Ngọ (1402), nhà Hồ cho sửa đường sá từ Tây Đô vào Hóa Châu[24]. Đây là sự chuẩn bị trực tiếp và công phu cho trận đánh có quy mô lớn hơn nổ ra sau đó.

    -         Hai là sự kiện diễn ra vào tháng 7 năm Nhâm Ngọ (1402). Lần này sử cũ chép khá đầy đủ, trong đó có đoạn : 秋 七 月 漢 蒼 大 舉 毀 占 城 以 杜 滿 爲 都 将 殿 内 判 首 阮 喟 爲 招 諭 使 東 都 路 安 撫 使 阮 鵬 舉 同 招 諭 使 (Thu, thất nguyệt. Hán Thương đại cử hủy Chiêm Thành. Dĩ Đỗ Mãn vi Đô Tướng, Điện Nội Phán Thủ Nguyễn Vị làm Chiêu Dụ Sứ, Đông Đô Lộ An Phủ Sứ Nguyễn Bằng Cử Đồng Chiêu Dụ Sứ), nghĩa là : Tháng bảy, mùa thu[25]. (Hồ) Hán Thương đem đại binh đi đánh Chiêm Thành. Lấy Đỗ Mãn làm Đô Tướng, Điện Nội Phán Thủ là Nguyễn Vị làm Chiêu Dụ Sứ, Đông Kinh Lộ An Phủ Sứ Nguyễn Bằng Cử làm Đồng Chiêu Dụ Sứ[26]. Quân nhà Hồ đại thắng. Chiêm Thành buộc phải cắt đất của hai châu Chiêm Động (占 洞) và Cổ Lũy (古 壘) dâng cho Đại Ngu. Chiêm Động lúc đầu được nhà Hồ chia thành hai châu là Thăng và Hoa, sau ghép lại thành châu Thăng Hoa. Đất này nay chủ yếu thuộc tỉnh Quảng Nam. Cổ Lũy lúc đầu được chia thành hai châu là Tư và Nghĩa, sau ghép lại thành châu Tư Nghĩa. Đất này nay chủ yếu thuộc tĩnh Quảng Ngãi. Trong số những điều khó nói về nhà Hồ, đây là điều khó nói nhất, tuy nhiên, dẫu sao thì ai cũng phải thừa nhận thành công của nhà Hồ, dù là thành công trên cơ sở dùng bạo lực để lấn át.     

    5.      Văn hóa và giáo dục

       Năm 1075, khoa thi đầu tiên của Đại Việt được tổ chức. Nhiều người nói đó là khoa thi Nho học đầu tiên nhưng xét kỹ nội dung thi (gồm làm tính, thi luật và viết chữ) mới hay rằng tất cả những người tham dự khoa thi đầu tiên đều là nhà Nho nhưng đấy không phải khoa thi Nho học. Trong các thế kỷ XII, XIII và đầu thế kỷ XIV, các khoa thi Nho học được tổ chức đều đặn và ngày càng chính quy. Rất tiếc là từ nửa sau thế kỷ XIV, lối học cử nghiệp dần dần trở nên phổ biến và dự báo sẽ gây nên không ít tác hại. Với quyết tâm cao độ và với quyền lực đang có của mình, Hồ Quý Ly đã tìm cách khắc phục sự yếu kém của chế độ giáo dục và thi cử. Để tiếng nói của mình có sức thuyết phục mạnh mẽ, ông đã tuần tự thực hiện hai kế hoạch khác nhau. Một là khẳng định trình độ thực học và hữu ích của mình, hai là thực hiện một loạt cải cách về văn hóa và giáo dục.

       Khẳng định trình độ thực học. Hồ Quý Ly là một tấm gương lớn về ý chí học tập nhưng ông học không phải để đi thi, không phải để được xúng xính áo mũ, vênh vang bước lên những bậc thang danh vọng, ngược lại, ông học để không ngừng nâng cao hiểu biết, đủ để tự tin làm việc theo sở nguyện. Giữa mênh mông cuộc đời, hệ thống bằng cấp cầm trên tay luôn luôn là cụ thể còn kiến thức tích chứa trong đầu bao giờ cũng là trừu tượng, bởi vậy Hồ Quý Ly đã chứng tỏ rõ năng lực dồi dào của mình theo cách riêng. Những năm cuối thế kỷ XIV, ông là người trực tiếp giảng dạy cho hoàng tộc nhà Trần và những bài giảng của ông được cô đọng lại trong những trước tác lớn mà chính ông là tác giả :

    -         Chép lại nguyên bản Hán văn của thiên  dật (無 逸)[27] có trong KINH THƯ và cho dịch ra chữ Nôm để dạy Hoàng Đế. Lúc ấy, chữ Nôm mới xuất hiện, số người biết kính trọng sáng tạo lớn này của dân tộc và nhất là có thể biết sử dụng thành thạo chữ Nôm chưa phải nhiều. Việc Hồ Quý Ly dịch thiên Vô dật quả thật là rất đáng ghi nhận.

    -         Biên soạn sách Quốc ngữ thi nghĩa (国 語 詩 義) để dạy cho hậu cung. Như vậy là cả Hoàng Đế lẫn hậu cung đều học theo các bộ sách do chính Hồ Quý Ly dịch và chú giải từ nguyên bản chữ Hán ra chữ Nôm. 

    -         Biên soạn sách Minh đạo (明 道)[28] gồm có 14 thiên, luận bàn về Nho học. Sách này dùng làm tài liệu tham khảo quan trọng cho đội ngũ Nho sĩ đương thời  

       Làm thầy trực tiếp giảng dạy cho Hoàng Đế và hậu cung, viết sách hướng dẫn học tập cho Nho sĩ một thời, việc lớn lao và cao cả này, có phải ai muốn là được làm đâu. Hóa ra Hồ Quý Ly vừa là người được làm, lại cũng là người làm được, ở đời nào phải ai cũng đều đồng thời đạt được hai điều tốt đẹp như thế. Là người có trình độ thực học vững vàng, tất nhiên, Hồ Quý Ly cũng dễ có những phản ứng hơi gay gắt trước các ý kiến mà ông cho là nông cạn. Năm 1402, ông thẳng thắn chê An Phủ Sứ lộ Thăng Hoa là Nguyễn Cảnh Chân rằng biết được mấy chữ mà bày đặt bàn việc thời Hán với thời Đường, chỉ chuốc lấy tiếng cười thôi”, suy cho cùng, đó cũng là thái độ có tính phổ biến của những người như Hồ Quý Ly. 

       Cải cách về văn hóa và giáo dục. Đây là lĩnh vực mà xưa nay, ý kiến đánh giá của giới sử học luôn đạt được sự nhất trí rất cao. Chủ trương cải cách và đặc biệt là những kết quả cụ thể của Hồ Quý Ly đều được trân trọng và công bằng ghi nhận. Nhìn lại những gì Hồ Quý Ly đã làm, ai cũng có thể dễ dàng nhận ra mấy vấn đề nổi bật sau đây :

       Thứ nhất, Hồ Quý Ly tuy tự xác nhận viễn tổ của mình có nguồn gốc là Trung Quốc và quốc Hiệu Đại Ngu[29] do ông đặt cũng góp phần xác định thêm nguồn gốc đó, nhưng trong giáo dục, ông luôn đề cao chữ Nôm là văn tự sáng tạo của người Việt. Những công trình của ông như Vô dật Quốc ngữ thi nghĩa đều được biên soạn bằng chữ Nôm. Đặt trong bối cảnh của những năm cuối thế kỷ XIV, đây là việc làm tỏ rõ niềm tự hào rất lớn lao về người Việt và thành tựu văn hóa của người Việt.

       Thứ hai, Hồ Quý Ly đã mở rộng việc học đến hầu khắp các địa phương. Năm Đinh Sửu (1397), Hoàng Đế Trần Thuận Tông thể theo ý nguyện (và cả áp lực nữa) của Hồ Quý Ly đã ban chiếu về việc học[30]. Chiếu này định rõ, tất cả các lộ, phủ và châu đều phải có chức Học Quan với những quy định về chế độ đãi ngộ rất cụ thể :

    -         Phủ và châu loại lớn, Học Quan được cấp 15 mẫu đất.

    -         Phủ và châu loại vừa, Học Quan được cấp 12 mẫu đất.  

    -         Phủ và châu loại nhỏ, Học Quan được cấp 10 mẫu đất.

       Về vấn đề này, sử gia lỗi lạc thế kỷ XV là Tiến Sĩ Ngô Sĩ Liên nhận xét : 當 時 有 此 詔 令 何 美 如 之 (đương thì hữu thử chiếu lệnh, hà mỹ như chi) nghĩa là đương thời mà có chiếu lệnh này, còn gì tốt đẹp hơn nữa[31]. Đó cũng là nhận xét chung của tất cả các thế hệ sử gia sau Ngô Sĩ Liên. Tất nhiên, Hồ Quý Ly chưa có đủ thời gian cần thiết để biến chiếu lệnh này thành thực tiễn sinh động, nhưng có lẽ cũng không nên quá khắt khe vì hãy đánh giá cải cách trong khuôn khổ trước hết và chủ yếu là ý tưởng.

       Thứ ba, Hồ Quý Ly đã ra sức cải cách chế độ thi cử sao cho thiết thực hơn. Với bất cứ một thế hệ học trò nào cũng vậy, điều ngao ngán nhất là kiến thức họ phải học chỉ cốt dùng để đi thi chứ không phải để ứng dụng khi vào đời. Hồ Quý Ly đã sớm phát hiện điều này và tìm cách hạn chế để rồi đẩy lùi thực trạng này. Tháng 8 năm Canh Thìn (1400), Hồ Quý Ly tổ chức khoa thi Thái Học Sinh và diễn đạt theo cách hiện đại, đó là lần đầu tiên thi cử dùng đề mở, bởi vì trước khi thi, Quan Trường đã giải thích ý nghĩa của đề thi cho sĩ tử, tức là làm tương tự như trước đó, nhà Tống ở Trung Quốc đã từng thử nghiệm làm. Điều quan trọng nhất cần khẳng định là Hồ Quý Ly đã đúng. Những người đỗ trong khoa thi này như Lưu Thúc Kiệm[32], Nguyễn Trãi[33], Lý Tử Tấn[34], Vũ Mộng Nguyên[35], Hoàng Hiến[36], Nguyễn Thành[37], Bùi Ứng Đẩu[38]…đều là những người thực tài.  

       Lấy thành bại để đánh giá phẩm cách cao thấp của một con người không phải lúc nào cũng đều đúng cả. Việc đánh giá cải cách của Hồ Quý Ly cũng vậy. Có quá nhiều ý tưởng của Hồ Quý Ly được các triều đại sau ứng dụng và thu được kết quả tốt đẹp. Hồ Quý Ly đã làm tất cả những gì mà cá nhân ông xét thấy cần làm và có thể làm. Ông thực sự là nhà cải cách vĩ đại của nhất lịch sử cổ trung đại Việt Nam. Yêu hay ghét là quyền riêng của mỗi người nhưng Hồ Quý Ly là như vậy. Một bộ phận cấu thành của lịch sử Việt Nam là như vậy.

                                                                                               Tháng 3-2012

                                                                                                                  N.K.T.


    Nhắn tin cho tác giả
    Trần Quốc Thường @ 10:26 09/09/2012
    Số lượt xem: 511
    Số lượt thích: 0 người
     
    Gửi ý kiến

    Truyện cười

    WEBSITE TRẦN QUỐC THƯỜNG KÍNH CHÀO QUÝ VỊ GHÉ THĂM

    Ảnh thành viên

    Thầy Trần Trung Sơn  Cô Lê Thu Hiền Cô Đoàn Thị Dương Thầy Võ Văn Tuấn Thầy Nguyễn Công Hiền Thầy Nguyễn Hùng Cường Thầy Đỗ Mạnh Hà Cô Nguyễn Thị Tuyết Thầy Đỗ Mạnh Hà

    Các bài hát về Hà Tĩnh

    TỔNG HỢP TIN TỨC