Chuyển đổi ngôn ngữ

Bạn bè bốn phương

Kho tài nguyên

Hỗ trợ trực tuyến

  • (thuongyenhonb@gmail.com)

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Thành viên trực tuyến

    4 khách và 0 thành viên

    Tin mới nổi bật.

    Từ điển trực tuyến


    Tra theo từ điển:



    Chào mừng quý vị đến với Website Trần Quốc Thường..

    Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tư liệu của Thư viện về máy tính của mình.
    Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay ô bên phải.
    Gốc > Sự kiện Lịch sử > Việt Nam >

    VỀ CÁCH ĐẶT TÊN ĐỆM CỦA DÒNG HỌ NGUYỄN

    VỀ CÁCH ĐẶT TÊN ĐỆM CỦA DÒNG HỌ NGUYỄN
    Theo Chín đời Chúa mười ba đời Vua Nguyễn - Nguyễn Đắc Xuân

    Dòng họ Nguyễn làm Chúa, làm Vua trong một thời gian khá lâu (từ 1558 đến 1945), con cháu rất đông. để khỏi nhầm lẫn về thế, thứ, thân, sơ và người trong họ, các Chúa và các Vua Nguyễn đã ban những nguyên tắc đặt tên và tên đệm cho con cháu trong dòng họ mình. Nhiều người, ngay cả người trong Hoàng tộc, cũng lúng túng trong việc nhìn nhận vai vế trong tộc mình.
    Việc đặt tên đệm do vua Minh Mạng chủ trương để áp dụng cho 20 đời tính từ vua Thiệu Trị về sau. Theo lời văn khắc trên đồng sách (bài ngự chế tự) thì việc này làm theo ý vua Gia Long.
    1. Từ vua Minh Mạng trở về trước (tức vua Gia Long ngược lên thêm 9 đời Chúa nữa)
    2. Những con cháu của chính vua Minh Mạng
    3. Họ của một số con cháu (Công tính)

    I. Những con cháu thuộc các thế hệ từ vua Minh Mạng trở về trước
    Gồm con cháu chín đời Chúa, anh em vua Gia Long và anh em vua Minh Mạng.
    Chúa Tiên (1558 – 1613) từ ngoài Bắc vào mang họ Nguyễn, tức Nguyễn Hoàng. Tương truyền rằng, khi bà vợ ông nằm mơ thấy thần nhân cho tờ giấy viết đầy cả chữ Phúc, nhiều người đề nghị lấy chữ Phúc đặt tên cho con thì bà cho rằng: Nếu đặt tên cho con thì chỉ một người được hưởng Phúc, chi bằng lấy chữ Phúc đặt làm tên đệm thì mọi người đều được hưởng Phúc. Bà đặt tên cho con là Nguyễn Phúc Nguyên, nhánh họ Nguyễn vào Nam làm Chúa đổi thành Nguyễn Phúc bắt đầu từ đó. Từ NGuyễn Phúc Nguyên xuống đến vua Minh Mạng đều mang họ Nguyễn Phúc (Vua Minh Mạng là Nguyễn Phúc Đảm). Những hậu duệ của chín đời Chúa cùng họ Nguyễn Phúc với vua Minh Mạng được nhà vua đặt là Tôn Thất. Con gái của Tôn Thất là Tôn nữ.
    Một số thân tộc thuộc dòng những con trai khác của Nguyễn Hoàng còn ở lại đất Bắc (như dạng làm con tin) thì đổi ra họ Nguyễn Hựu.

    II. Những con cháu của vua Minh Mạng
    Vua Minh Mạng cho làm riêng cho con cháu mình bài Đế hệ thi 20 chữ dành cho 20 đời.
    Miên Hường Ưng Bửu Vĩnh
    Bảo Quí Định Long Trường
    Hiền Năng Kham Kế Thuật
    Thế Thụy Quốc Gia Xương

    Con vua Minh Mạng có tên đệm là Miên như Miên Tông (Vua Thiệu Trị), Miên Thẩm (Tùng Thiện Vương), Miên Trinh (Tuy Lý Vương).
    Cháu nội vua Minh Mạng có tên đệm là Hường như Hường Nhậm (Vua Tự Đức).
    Chắt nội tên đệm là Ưng như Ưng Chân (Vua Dục Đức).
    Chỉ có những người trong Đế hệ thi mới được làm vua: Miên Tông (Thiệu Trị), Hồng Nhậm (Tự Đức), Ưng Chân (Dục Đức), Bửu Lân (Thành Thái), Bửu Đảo (Khải Định), Vĩnh San (Duy Tân), Vĩnh Thụy (Bảo Đại).
    Con gái, cháu gái của vua Minh Mạng cũng có một cách đặt tên riêng.
    Nói chung, con gái của vua Minh Mạng hay của các vua con cháu của vua Minh Mạng cũng đều áp dụng theo một cách đặt chữ lót sau đây:
    Con gái của vua là Hoàng nữ, khi được sắc phong thì trở thành Công chúa và có tên hiệu riêng. Ví dụ Hoàng nữ Trinh Thận (em ruột Miên Thẩm) được sắc phong là Lại Đức Công chúa.
    Công chúa về sau có anh hay em làm vua thì được gọi là Trưởng Công chúa (để phân biệt với Công chúa con vua đang trị vì), có cháu làm vua (vua gọi bằng cô) thì được gọi là Thái trưởng công chúa (trở thành cô của vua tại vị).
    Con, cháu gái các Hoàng tử tức cháu nội của vua thì phải căn cứ vào thứ bậc của anh hoặc em trai mà đặt.
    Con trai của Hoàng tử là Công tử, chị em gái của Công tử là Công nữ, con trai, con gái của Công tử là Công tôn nữ (tôn đây có nghĩa là cháu), con gái Công tôn là Công tằng tôn nữ, xuống một bậc nữa là Cung huyền tôn nữ, xuống nữa là Lai tôn… Nhưng để đơn giản các đời kế tiếp chỉ gọi là Tôn nữ với ý nghĩa là cháu gái.


    Nhắn tin cho tác giả
    Đinh Xuân Đông @ 07:32 28/02/2012
    Số lượt xem: 2070
    Số lượt thích: 0 người
     
    Gửi ý kiến

    Truyện cười

    WEBSITE TRẦN QUỐC THƯỜNG KÍNH CHÀO QUÝ VỊ GHÉ THĂM

    Ảnh thành viên

    Thầy Trần Trung Sơn  Cô Lê Thu Hiền Cô Đoàn Thị Dương Thầy Võ Văn Tuấn Thầy Nguyễn Công Hiền Thầy Nguyễn Hùng Cường Thầy Đỗ Mạnh Hà Cô Nguyễn Thị Tuyết Thầy Đỗ Mạnh Hà

    Các bài hát về Hà Tĩnh

    TỔNG HỢP TIN TỨC