Chuyển đổi ngôn ngữ

Bạn bè bốn phương

Kho tài nguyên

Hỗ trợ trực tuyến

  • (thuongyenhonb@gmail.com)

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Thành viên trực tuyến

    0 khách và 0 thành viên

    Tin mới nổi bật.

    Từ điển trực tuyến


    Tra theo từ điển:



    Chào mừng quý vị đến với Website Trần Quốc Thường..

    Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tư liệu của Thư viện về máy tính của mình.
    Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay ô bên phải.
    Gốc > Phiếm đàm-Tản văn >

    AI CÒN NHỚ NƯỚC VỐI?

    Chùm tản văn của Cao Văn Quyền
    Xem hình
     

    AI CÒN NHỚ NƯỚC VỐI?

    Tình cờ tôi biết đến một quán vỉa hè của một cụ già gần ngay khu trọ bán một loại nước mà lâu lắm rồi tôi mới có dịp gặp lại. Đó là nước vối. Mỗi lần rỗi tôi lại rủ rê lũ bạn đến quán nước bà cụ, vừa hàn huyên chuyện trò vừa thưởng thức những cốc nước vối thanh mát. Một số đứa đùa rằng: “Thời đại này là của trà đá, trà chanh chứ ai còn dùng nước vối”. Tôi cười: “Có lẽ mình là người hoài cổ”.

    Ngày xưa, nước nụ vối là thứ nước rất phổ biến trong nhiều gia đình ở quê tôi. Trong mỗi nhà đều có đủ bộ ấm, giỏ. Ấm thì mọi người chuộng loại ấm tích, men sứ trắng, phía đầu nắp có hai lỗ, dây đồng luồn qua làm tay xách. Còn giỏ ngoài thì được đan bằng tre hoặc mây. Nhưng thông dụng nhất vẫn là loại giỏ làm bằng mây. Hình dáng giỏ khum tròn tựa như một cái lu thu nhỏ đủ để vừa ấm tích vào trong. Trong giỏ thường lót một lớp nhung để giữ nhiệt cho ấm.

    Vối được sử dụng có hai loại, một loại lá nhỏ hơn bàn tay, màu lá vàng xanh thẫm dân gian gọi là vối nếp hay vối kê, còn loại lá to hơn, hình thoi, lá xanh thẫm gọi lá vối tẻ. Thứ cây này thường được trồng nhiều ở bờ ao. Lá của cây vối xòe rộng vì thế mặt ao luôn rợp mát. Những trưa nắng, ngồi dưới gốc vối, mặt ao bốc lên một làn  hơi nước mát dịu hòa tan vào không khí. Khi đó mọi bực dọc, nóng bức trong người chợt tan biến lúc nào không hay.

    Nụ vối bà trữ để hãm trà uống quanh năm. Bà bảo nụ vối khi phơi khô đóng bao càng để lâu càng tốt miễn là bảo quản cho nó đủ độ khô, giòn là được. Nước vối dùng cho cả người lớn và trẻ nhỏ. Tôi nhớ thời còn bé, cơ địa tôi nóng, rôm sảy, mụn nhọt mọc khắp người. Chẳng cần thuốc thang gì, bà lấy lá vối tươi sắc đặc vừa để gội đầu vừa tắm cho tôi. Nước vối tươi như một loại thuốc sát khuẩn chữa chốc lở rất hiệu nghiệm. Cứ thế, tiếng lành đồn xa, lá vối được các bậc phụ huynh có con chốc, sài truyền miệng nhau để chữa bệnh.

    Một dạo mới lên thành phố tôi vẫn mang theo túi nụ vối khô để làm trà hãm uống. Cũng học theo cách của bà tôi để nụ vối trong vò sành, chần nước sôi trước khi hãm để cho bớt vị chát, nhưng nước vẫn không thể nào ngon như bà hãm. Mấy đứa bạn cùng quê mỗi lần đến chơi tỏ thích thú ra mặt. Còn mấy đứa ở thành phố thì mắt tròn mắt dẹt tựa như uống bát nước lạ lùng. Riết dần rồi quen, rồi “ nghiện”. Lần về quê nào lũ bạn cứ dặn tôi đưa lên phố những túi nụ vối phơi khô.

    Đùng một cái, quê tôi được quy hoạch lên thị xã, những nhà cao tầng vì thế mà cũng ra đời. Bao hồ ao, đường sá san bằng làm lại, ruộng đồng nhường chỗ cho nhà máy, khu công nghiệp. Những cây vối quanh ao cũng dần một mai một.

    Giờ gặp lại quán nước vối giữa chốn thị thành, thấy nôn nao trong người. Kỷ niệm tuổi thơ dội về, bên bát nước vối, bên bà thân thương… Ai còn nhớ bát nước vối quê?

    VỊ QUÊ

    Đôi khi ngồi một mình nhớ về tuổi thơ vất vả, trong ký ức tôi là những món ăn mà suốt năm tháng lớn lên, tôi không thể nào quên được. Nó dân dã, đượm thắm tình quê hương. Một trong những món ăn ấy là bí non xào tỏi, mà mỗi lần nhắc đến, tôi lại thèm thuồng.

    Phía sau nhà tôi là nơi con sông Lam chảy qua, bãi bồi ăm ắp phù sa, cây trái xanh mướt. Khoảnh đất đó, mẹ tôi trồng nhiều rau củ, vừa làm thức ăn cho gia đình, vừa mang ra chợ bán, kiếm thêm chút gọi là. Tôi nhớ cứ vào độ giêng hai, khi mưa thuận gió hòa, mẹ lại mang hạt bí ra tỉa. Sau hơn một tháng, những dây bí bắt đầu lan rộng, phủ khắp bãi một màu xanh ngút ngàn. Trong đám dây xanh ấy, những trái bí tròn tròn khiến tôi chờ đợi nhất. Bởi, không phải tất cả các quả bí mẹ đều để lại. Mẹ chỉ chọn những trái tròn, ra ở nhánh cây khỏe. Quả nào méo mó, nhắm chừng không thể phát triển được, mẹ hái vào làm thức ăn. Tôi học được cách chăm cây của mẹ. Để có trái bí non ngon, giòn sần sật khi ăn, thì lúc bí còn nhỏ, hãy lấy gai chanh đâm chi chít xung quanh. Những vết đâm này sẽ hãm sự lớn của bí, da bí sần sùi hơn và ăn có cảm giác giòn, ngon. Từ bí non, mẹ tôi chế biến thành nhiều món ăn ngon, đậm chất dân dã: Bí non luộc, bí non nấu canh… Nhưng tôi vẫn thích nhất là món bí non xào tỏi.

    Để có được món ăn ngon này, thật đơn giản. Chỉ việc thái miếng nhỏ quả bí, ngâm sơ qua nước muối cho giòn rồi cho vào chảo dầu đang phi tỏi trên bếp. Nhanh tay đảo đều chảo bí. Một mùi thơm sực nức lan tỏa khắp không gian. Cứ hôm nào có bí non xào tỏi, nồi cơm của mẹ cũng hết veo. Những lần ba tôi đi biển mang về chút tép, phơi khô, rắc thêm lên chảo bí xào tỏi, hương vị món ăn càng đậm đà. Khi ăn có vị ngọt của tép, vị giòn của bí và mùi thơm của tỏi phi. Thật tuyệt vời!

    Con sông Lam vẫn ngày ngày chảy qua quê tôi, bãi bồi ngày càng được bù thêm phù sa. Bố mẹ tôi tuy đã nhiều tuổi nhưng vẫn gieo trồng cây trái như xưa. Anh em nay đều đã trưởng thành, đa phần lập nghiệp trên phố. Nhờ món bí non xào tỏi này mà chị gái tôi đã ghi điểm xuất sắc trong mắt gia đình chồng tương lai.

    Mỗi mùa bí ra quả, mẹ nhắn chúng tôi ra bến xe nhận quà. Nhìn bọc quả bí non trĩu nặng, lòng tôi lại cồn cào nhớ nhà, nhớ quê, và thương nhớ tuổi thơ xưa!

    THƯƠNG NHỚ CUA ĐỒNG

    Xa quê lên thành phố học tập rồi lập nghiệp dù đã gần chục năm nhưng bất kể thời điểm nào tôi cũng biết được rằng, ở quê giờ đang là vụ gì, có món gì ngon. Mấy người bạn học, đồng nghiệp cứ cười , bảo tôi nhớ làm chi mấy thứ đó cho mệt ra.

    Tôi nhớ mùa này đang là mùa cua đồng. Sau bữa cơm tối, gọi điện cho má, tôi hỏi thăm sức khỏe và không quên hỏi đến cua đồng. Vẫn điệu cười sang sảng đó, má chọc tôi “ Dễ đến chục năm rồi chi bây, mà nhớ dai dữ hè”. 

    Cua đồng có hai mùa: Một vào vụ gặt hè thu, một vào vụ đông xuân. Vụ này, vì thời tiết lạnh nên cua không được ngon và béo như vụ hè thu, sau mùa gặt. Thời điểm cua ngon nhất đó là khi lúa đang làm đòng. Mấy trận mưa rào mùa hạ ập xuống, mát nước, được đà cua cứ sinh sôi nảy nở. Con nào con nấy béo múp, gạch căng tràn. Nhưng thời điểm đó người dân quê tôi chỉ bắt cua ở các con mương, kênh, rạch chứ không len vào bờ kè của lúa vì sợ phấn lúa rơi rụng. Đợi đến khi gặt xong mới bắt cua ở ruộng. 

    Cái thời bé xíu con con, má tôi bảo “chưa đủ tuổi” nên chưa cho tôi được quyền “tự chủ” đi bắt cua. Thứ nhất công việc bắt cua tưởng chừng như đơn giản nhưng lại không đơn giản chút nào. Cua thường đào lỗ sâu và nếu không khéo thì cả buổi không bắt được con nào mà bị tay chân xây sát vì va chạm vào đất. Thứ hai, không may, lỗ đó con rắn nào đang nấp thì nguy hiểm đến tính mạng nữa. Nói đến rắn mặt mày tôi tái mét, dù ham lắm nhưng cũng chỉ biết đứng coi bọn bạn bắt đến độ thèm thuồng. Tôi chỉ còn có nước xin má một chân phụ, xách xô cho má. Má đi quanh các dọc bờ kè, một cách lẹ làng và rất điệu nghệ, chân phải má quỳ xuống, chân trái má co, mặt ghé sát mép kè và cho tay vào lỗ. Chừng hai phút từng con một má lôi ra, tôi chỉ việc chìa xô cho má bỏ vào. 

    Cua đồng mang về trước hết cho vào xô nhựa. Cho nước ngập cua và dùng que đảo nhiều vòng, trước là để sạch đất, hai nữa là để cho cua “say” và không bị kẹp vào nhau. Công đoạn tiếp theo là bắt khéo léo từng con một tách bỏ mai, yếm, rửa nước lạnh vài lần cho sạch, để ráo. Tôi cũng háo hức phụ má khèo gạch cua trong mai ra một chiếc bát nhỏ. Cua đồng má tôi chế biến thành nhiều món. Lúc rảnh rang có nhiều thời gian thì má làm canh cua hoặc bún, lúc bận quá thì má luộc, rang lên.  Cái cảm giác đám trẻ con xúm quanh nồi cua luộc bốc nghi ngút khói, cầm mai cua húp phần gạch lẫn nước ngọt lịm. Tiếng húp suồm suộm như sợ chỉ một chút nước gạch cua ra thôi là tiếc lắm, phần còn lại bẻ thân, cọng chấm muối ớt ngon lành. Hoặc như cua rang thì cứ tranh nhau con to để ăn cọng cho nhiều thịt.

    Do thường xuyên ăn cua nên ba đúc sẵn một chiếc cối đá, đẽo chày gỗ để giã cua. Khi mớ cua đã sơ chế, bắt đầu má cho vào cối giã nhuyễn. Khi cua đến độ nhuyễn vừa phải má bắt đầu cho nước vào rồi khuấy đều lên rót vào nồi. Trên miệng nồi bít kín một tấm khăn màn mỏng để gạn bã. Làm đi làm lại cho đến khi nước trong thì thôi.  Sau cùng, cho nước cua vào nồi, bắc lên bếp nấu sôi, vài phút sau, nhẹ tay sơ đều để riêu không bị dính dưới đáy nồi. Để liu riu lửa tránh cho cua bị trào. Phần gạch cua để cho có mùi vị, dậy mùi thơm ngon nên phi một chút hành mỡ, gia vị vừa đủ thả cùng với nồi nước dùng. Với canh thì có thể cho rau ngót, lá khoai lang hay mớ rau tập tàng thái nhỏ ăn đều ngon.
    Có hôm sang, mẹ đổi món cho cả nhà, mua độ nửa cân miến gạo cho vào từng tô và chan nước riêu cua lên. Những hôm có canh hay bún riêu  cua ai nấy đều no cành hông.

    Cua đồng nhiều chất. Thuở xưa nhà nghèo, trong bữa ăn chỉ độc hai món canh và rau thôi nhưng mấy đứa con của má cứ béo ú ụ. Mà không chỉ riêng gì mấy anh em tôi, mấy đứa trạc tuổi nhà hàng xóm cũng y như vậy. Giờ học lên, rồi đi làm ở thành phố, thèm bát riêu cua có thể chạy ra đầu ngõ là có ngay một tô nóng hổi. Cũng  là cua đồng như sao tôi ăn không thấy ngon, ngọt như xưa. Tôi biết vị cua xưa tôi ăn đượm tình yêu của quê hương, của má nên mới ngon ngọt như vậy.

    Cao Văn Quyền


    Nhắn tin cho tác giả
    Trần Quốc Thường @ 11:49 12/04/2014
    Số lượt xem: 490
    Số lượt thích: 0 người
     
    Gửi ý kiến

    Truyện cười

    WEBSITE TRẦN QUỐC THƯỜNG KÍNH CHÀO QUÝ VỊ GHÉ THĂM

    Ảnh thành viên

    Thầy Trần Trung Sơn  Cô Lê Thu Hiền Cô Đoàn Thị Dương Thầy Võ Văn Tuấn Thầy Nguyễn Công Hiền Thầy Nguyễn Hùng Cường Thầy Đỗ Mạnh Hà Cô Nguyễn Thị Tuyết Thầy Đỗ Mạnh Hà

    Các bài hát về Hà Tĩnh

    TỔNG HỢP TIN TỨC