Chào mừng quý vị đến với Website Trần Quốc Thường..
TỪ CHUYỆN XE BUÝT ĐẾN KHU LÀNG CỔ VÀ XÃ THANH VĂN
TỪ CHUYỆN XE BUÝT ĐẾN KHU LÀNG CỔ VÀ XÃ THANH VĂN
I/ CHUYỆN VI HÀNH VÀ LÀNG CỔ
Thế là đã gần ba năm ông giữ chuyên mục “Góc nhìn của nhà thơ Trần Đăng Khoa”, bàn về những vấn đề, những sự kiện nóng hổi đang diễn ra trên khắp đất nước, bao gồm: Kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, (trừ văn chương và thơ ca là món sở trường của ông). Dù thẳng thắn, sắc sảo, mang tính xây dựng và có trách nhiệm cao, nhưng chỉ một người độc thoại, xem ra cũng dễ tẻ. Ta thay bằng cuộc “đấu khẩu” theo kiểu: “Hỏi thẳng đáp thật”. Ý ông thế nào.
Đồng ý. Nếu biết, tôi xin được thưa thốt. Mà nếu không biết thì tôi dựa cột nghe bà…
Qua các kênh truyền thông, chắc ông cũng đã biết, mới đây, Ông Phạm Quang Nghị Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Thành ủy Hà Nội đã lên tuyến xe buýt Nguyễn Khoái- Trần Khánh Dư. Do xe đông, Bí thư Thành ủy đã đứng cùng với các hành khách khác trên xe hơn 20 phút. Vị lãnh đạo cao nhất của thành phố đã hỏi chuyện 3 hành khách về giá vé, thái độ phục vụ và an ninh, an toàn trên xe buýt... Trong buổi làm việc với lãnh đạo Tổng Cty Vận tải Hà Nội Transeco, ông Nghị cho biết, dù chỉ đi hành trình vài ki lô mét nhưng ông đã ghi nhận được rằng người dân vẫn rất yêu mến và dành tình cảm cho xe buýt, điều đó được chứng minh qua các tuyến xe buýt luôn đông khách…
Đúng vậy. Ở các nước văn minh, tiên tiến, không có xe máy, xe đạp, chỉ có ô tô và tàu điện ngầm mà giao thông của họ rất tốt. Ở ta, nếu hệ thống giao thông công cộng đáp ứng được nhu cầu tối thiểu của dân thì tôi tin sẽ chẳng ai dùng xe máy, xe đạp, xe ôm. Những ngày mưa rét, đi phương tiện thô sơ qua cầu Long Biên, Chương Dương quả là một cực hình. Ấy là chưa kể lại còn nơm nớp bất an vì lo tai nạn giao thông. Bao người dân dừng xe trước đèn đỏ rồi mà còn bị tai nạn thảm khốc vì những chiếc xe điên bất ngờ chồm lên họ. Tiếc là ở ta, hệ thống giao thông công cộng chưa đáp ứng được nhu cầu đi lại của dân. Còn có chuyện lái xe hành dân, rồi nạn móc túi, cướp giật như báo chí phản ánh. Tất cả những vấn nạn ấy đều làm mất lòng tin của dân. Bí thư Thành ủy Hà Nội Phạm Quang Nghị đi xe buýt để nắm thực chất đời sống của dân là việc làm đẹp. Nếu vị lãnh đạo nào cũng xuống với dân như ông thì đời sống người dân cũng bớt một phần cơ cực. Ngày xưa, vua chúa cũng luôn vi hành để giám sát sự nhũng nhiễu của các quần thần và các quan địa phương. Tuy nhiên, thời ấy, truyền thông chưa phát triển, nên chẳng ai biết mặt vua. Chỉ bỏ tấm áo bào ra là vua đã có thể thành dân, cùng chịu chung niềm vui, nỗi khổ với dân, mới có thể hiểu được thực chất đời sống thế nào dưới sự trị vì của mình. Bây giờ, không phải vị quan chức nào người dân cũng có thể gặp được. Nhưng gương mặt của các quan chức lại rất quen thuộc qua các kênh truyền thông, nên dù có khoác tấm áo rách của dân, dù lẫn vào trong dân, nhưng họ vẫn không thể thành được dân để nghe những lời nói thật. Đấy cũng là nỗi khổ của các quan chức. Tuy nhiên, vẫn có cách khắc phục rất dễ dàng, lại có hiệu quả cao mà các vị quan chức không phải “vi hành” vất vả, đó là lập đường dây nóng để bất cứ người dân thấp cổ bé họng nào cũng có thể “gặp” được. Dân sẽ thành trợ lý, thành tai mắt cho quan. Đó là cách làm của Bí thư Thành ủy Nguyễn Bá Thanh. Và đó cũng là bí kíp giúp ông biến Đà Nẵng thành đô thị nề nếp nhất nước. Đà Nẵng cũng là nơi có chất lượng sống cao nhất trong khu vực theo đánh giá của nhiều người nước ngoài.
Năm 2013, người dân Làng cổ Đường Lâm Hà Nội đồng loạt viết đơn xin trả lại danh hiệu di tích Quốc gia cho nhà nước vì họ cho rằng danh hiệu đó đã và đang làm đảo lộn cuộc sống của họ. Nhưng gần 1 năm trôi qua, quy hoạch cũng như các phương án để bảo tồn và phát huy làng cổ Đường Lâm vẫn chưa được công bố. Những ngôi nhà cổ càng xuống cấp, cần được trùng tu, cải tạo. Người ta đặt câu hỏi, Đến bao giờ họ mới có thể được sống thoải mái trên chính mảnh đất quê hương mình.
Câu chuyện của bà lại làm tôi nhớ đến nhà văn hóa lớn Hữu Ngọc. Ông Hữu Ngọc có nhiều năm hoạt động trong Quỹ Văn hóa Việt Nam - Thụy Điển. Ông quan tâm nhiều tới những ngôi nhà mang đặc tính thôn quê, để rồi tìm cách tài trợ, phục dựng những ngôi nhà đó. Và rồi, khi đi khảo sát, ông phát hiện ra rằng, hầu hết các làng quê đồng bằng Bắc bộ đều bị ô nhiễm văn hóa rất nặng. Chỉ duy nhất một nơi còn giữ được. Đó là Đường Lâm. Nhưng Đường Lâm giữ lại được không hẳn vì người dân có ý thức, mà vì đó là vùng quê rất nghèo, chẳng có nghề gì ngoài nghề tráng bánh đa và làm kẹo kéo. Nghề kẹo kéo, bánh đa thì không thể “phá làng” được. Và ông Hữu Ngọc có kết luận rất đau xót thế này: “May mà cái nghèo đói đã cứu được cả một mảng văn hóa đang bị hủy diệt”.
Bàn về làng cổ, phố cổ, tôi lại ngờ ngợ rằng, không phải chỉ Đường Lâm, hình như cả Hà Nội, trừ các chùa chiền và Văn Miếu, một công trình kiến trúc có tuổi thọ ngót một ngàn năm, sau được trùng tu, tôn tạo qua rất nhiều đời, còn thì chúng ta không có phố cổ mà chỉ có làng cũ, phố cũ. Bao gồm cả phố cũ xưa ta xây và phố cũ sau này Tây xây. Đó là Ba mươi sáu phố phường xưa và những khu phố có biệt thự Tây. Bởi trong khu phố đó có rất nhiều nhà chỉ xây cách đây chừng hơn một trăm năm, hoặc hai trăm năm thì sao lại gọi là phố cổ được? Ở Nga, có những thành phố cổ như Xuzđan xây dựng cách đây hơn 12 thế kỷ, trong đó có những căn nhà gỗ, tường xếp bằng nguyên cả những cây gỗ, mái cũng lợp gỗ. Trong nhà vẫn còn nguyên cả những đồ đạc có cách chúng ta 1200 năm. Ở ta, nếu có phố cổ thì chỉ có thể là Hội An. Một khu phố rất lạ. Kiến trúc khá độc đáo. Hội An có một vùng văn hoá riêng, một bầu không khí cũng rất riêng biệt. Hàng tháng, cứ vào đêm 14 là người ta tắt hết điện, thắp đèn lồng. Những căn nhà gỗ trông rất cổ kính. Vào trong nhà không khí khác hẳn, nhiệt độ cũng mát hẳn. Người ta lấy gió tự nhiên làm điều hoà nhiệt độ cho cả căn nhà. Ở đó không có AIDS, không có kẻ cắp, trấn lột và những kẻ lừa đảo. Tóm lại, những cái xấu, cái hỗn tạp của những đô thị hiện đại không du nhập được vào khu phố cổ này. Người dân sống giữa một bầu không khí trong vắt như ở hồi thế kỷ 17. Ngay cả việc buôn bán của họ cũng rất lạ lùng. Tôi mua một cái quần bò. Bà chủ quán hỏi rất cặn kẽ: "Chú định mặc một lần hay muốn dùng lâu dài? " Khi biết tôi thuộc dân "ăn chắc mặc bền", bà chủ quán khuyên tôi nên sang cửa hàng khác. Không xa đâu. Chỉ cách quán bà có ba nhà thôi. Bà bảo đồ của bà không tốt. Chỉ qua vài lần giặt là vải xù ra. Tôi không thấy ở đâu có người bán hàng lạ lùng như thế. Nếu đã mua hàng rồi mà không ưng, hôm sau có thể mang trả lại. Người bán sẽ hoàn lại nguyên tiền, không bớt đi một xu, cũng không hề tỏ vẻ trách móc. Đấy là buôn bán theo lối cổ, ở một thời xã hội trong veo. Hà Nội chẳng bao giờ có chuyện như thế. Đã mua rồi mà trả lại thì sẽ bị trừ tiền, hoặc bị cằn nhằn, chửi rủa rất thậm tệ. Ấy là chưa kể nạn chặt chém. Tôi có anh bạn thân, là một nhà báo rất nổi tiếng. Anh cắt may tặng bạn một bộ comple và bốn bộ quần áo thường phục. Dù có đeo nhãn nước ngoài thì cũng vẫn đồ nội địa, vì nếu may cắt từ Tây Ban Nha thì không thể ba, bốn ngày đã nhận sản phẩm được. Khi thanh toán mới tá hỏa, một bộ Comple với bốn bộ thường phục, vải rất bình thường mà giá 80 triệu đồng, giảm giá 5 triệu, còn 75 triệu. Đó là cái giá tàn bạo. Nếu bình thường, khách hàng có thể làm ầm lên, hoặc công bố vụ chặt chém trên báo chí. Bằng bút lực của một nhà báo có tài, chắc sẽ thành một sự vụ và cửa hàng may đo ấy có thể sập tiệm vì trò lừa đảo. Nhưng bạn tôi không làm thế. Quà tặng, ai lại đi so đo giá cả. Bạn tôi đành nuốt quả đắng và lặng lẽ rút lui. Cửa hàng ấy đã mất một khách hàng lịch sự và phóng khoáng. Với cách làm chụp giật trắng trợn ấy, lối kinh doanh đó rất khó tồn tại được lâu dài. Vì anh ta chỉ lừa được một lần, chứ không thể lừa được mãi.
Trở lại với làng cổ, nhà cổ Hà Nội, theo ông Tô Hoài, Hà Nội không có khu phố cổ nhưng có nhà cổ. Ví như nhà số 38 Hàng Đào và 87 Mã Mây. Hai ngôi nhà cổ này đã được Pháp đầu tư tài trợ để bảo tồn. Có thể rất dễ dàng nhận ra nhà cổ. Nhà cổ có hai cửa. Cửa trước dành cho chủ nhà đi. Cửa sau dành cho gia nhân, đầy tớ, hoặc chuyển phân rác và đồ phế thải. Hà nội xưa có những vùng riêng biệt. “Thành thị” không phải là một từ chung. Đó là hai khu cụ thể. “Thành” là nơi vua quan ở, còn “thị” là nơi ở của dân chúng, chủ yếu là dân buôn bán, phục vụ cho “thành”. Vua quan trong thành thỉnh thoảng ra đường, nên thường qui định dân chúng chỉ được ở nhà trệt, không làm nhà gác, hoặc nếu có nhà gác thì không được trổ cửa sổ hoặc làm ban-công chìa ra đường, vì vua quan đi ở bên dưới. Không ai được đứng trên đầu vua. Bởi thế, nhà cổ không có ban công hoặc cửa sổ trổ ra đường. Đã đến lúc chúng ta nên xác định rõ, cả ở những nơi được coi là phổ cổ, làng cổ, đâu là nhà cổ để gìn giữ, trùng tu, còn đâu là những ngôi nhà cũ để cho dân được tôn tạo, nâng cấp, hoặc xây dựng lại. Bởi nhiều nhà tối tăm, xập xệ quá. Thực chất đó là những khu nhà ổ chuột. Đã thế, vệ sinh lại không bảo đảm, vừa ô nhiễm môi trường, vừa làm mất cảnh quan đô thị...
II
MỘT MÔ HÌNH MỚI, MỘT VẺ ĐẸP MỚI
Cái “mô hình mới, vẻ đẹp mới” ấy là xã Thanh Văn, huyện Thanh Oai, Hà Tây, nay là Hà Nội. Liên tục trong dịp Tết, cả trên sóng phát thanh Đài Tiếng nói Việt Nam và Đài Truyền hình Việt Nam, kênh VTC16, một kênh Truyền hình tam nông chuyên biệt dành cho nông nghiệp, nông dân, nông thôn, ông đã hết lời ca tụng một vẻ đẹp mới trong cách làm ăn và tổ chức đời sống xã hội, ông còn muốn mô hình mới này được các nhà lãnh đạo quan tâm, nghiên cứu rồi nhân rộng ra cả nước. Theo lời ông, tôi “mò vào mạng”, thấy báo chí cũng đã nói rất nhiều về một mô hình xây dựng nông thôn mới ở xã Thanh văn, Thanh Oai Hà nội. Những gì xã làm được theo báo chí nói thì công lớn là ở dân, ở chi bộ đảng xã này đã có những cách làm mà khó có nơi nào làm được: Cán bộ khi mới được bầu, hay đề bạt, đều phải thề độc khi nhậm chức, trước sự chứng kiến của nhân dân: "Nếu tham nhũng, hay xà xẻo của công, dù chỉ một đồng, cũng sẽ bị trời tru đất diệt !". Và rồi lời thề ấy luôn được dân giám sát. Tại sao Lời thề ấy không được dùng ở các xã, các làng quê khác? Phải chăng các nơi khác không có quan thanh liêm, không có chi bộ đảng trong sạch vững mạnh thật sự như Thanh Văn?
Tôi cũng đã tìm về xã Thanh Văn, huyện Thanh Oai, không phải một lần mà ba lần. Quả là ở đây, đúng như báo chí nói, đời sống nhân dân rất nề nếp, ổn định. Dân rất tin Đảng. Đảng luôn nghe Dân. Một bầu khí quyển trong vắt như ở thời đại cụ Hồ. Tôi không gặp mấy ông cán bộ mà la cà trong dân, nghe dân nói, dân kể. Người dân ở đây rất yêu kíp lãnh đạo hiện hành, họ đều là cựu chiến binh, từng kinh qua chiến tranh, vào sinh ra tử, đặc biệt là ông Bí thư Đảng ủy xã Quang Văn Thỉnh. Họ gọi: “Bác Thỉnh của chúng tôi”, “Bí thư của chúng tôi”, và những người nói lời đặc biệt yêu mến ấy lại không phải là đảng viên. Cán bộ được dân yêu bây giờ không nhiều đâu, nếu không nói là rất hiếm trong thời buổi phức tạp, lòng dân đang ly tán. Họ còn hào hứng kể cho các nhà báo nghe về việc họ đã phải “đấu” với huyện để “giành lại” ông Bí thư của mình như thế nào. Điều này thì nhà báo nổi tiếng Vũ Hữu Sự cũng đã tổng thuật trên báo “Nông nghiệp Việt Nam”. Cứ như lời ông Sự, ngày 1/8/2010, Đại hội lần thứ 22 của Đảng bộ xã Thanh Văn nhiệm kỳ 2010- 2015 khai mạc. Chủ trương của Huyện uỷ Thanh Oai là nhiệm kỳ này ông Quang Văn Thỉnh sẽ nghỉ, vì tính đến lúc đó, ông đã làm Bí thư Đảng uỷ liên tục 7 khoá, 23 năm, tuổi cũng đã 70. Một đoàn cán bộ, trong đó có 3 Phó Bí thư Huyện uỷ, đã được Huyện uỷ cử về Thanh Văn để dự đại hội và chỉ đạo trực tiếp. Tại đại hội, Phó Bí thư Huyện uỷ phụ trách cơ sở Đảng đã công bố quyết định của Huyện uỷ để ông Quang Văn Thỉnh, Bí thư Đảng uỷ xã đương nhiệm, nghỉ hưu. Bản thân ông Thỉnh cũng xin nghỉ với lý do tuổi cao. Nhưng ngay lập tức, hàng chục đảng viên đã liên tiếp có ý kiến không nhất trí với quyết định của Huyện uỷ và với cả ý kiến của ông Quang Văn Thỉnh. Những tiếng nói đều rất thẳng thắn, rất thật lòng và quyết liệt: Quang Văn Thỉnh là một bí thư có tâm, có tài, có đức, đặc biệt là có tầm nhìn xa rộng, có lối sống trong sạch, đã lãnh đạo đảng bộ và nhân dân Thanh Văn một cách đúng đắn, sáng tạo, mang lại đời sống ngày càng ấm no, hạnh phúc, bình yên cho nhân dân... Khi vào đảng, mỗi đảng viên đều có lời thề “Phấn đấu đến hơi thở cuối cùng cho dân, cho nước, cho lý tưởng”. Vì vậy, khi đảng bộ và nhân dân còn tín nhiệm thì đảng viên không được thoái thác nhiệm vụ. Chọn bí thư là quyền của đại hội chứ không phải quyền của Huyện uỷ. Yêu cầu ông Thỉnh không được rút. Sau mỗi ý kiến ấy, tiếng vỗ tay lại ran khắp hội trường. Bên ngoài, nhân dân cũng kéo đến rất đông, thiết tha xin ông Thỉnh hãy tiếp tục nhiệm vụ. Kết quả là đại hội đã bầu ông vào cương vị bí thư với số phiếu tuyệt đối. Và thế là ông lại phải làm. Cũng theo lời ông Sự, đó quả là một “đại hội lịch sử”, một đại hội “vô tiền khoáng hậu”. Tất nhiên, nói cho thật công bằng, ở đây cũng cần phải ghi nhận sự mới mẻ của Thành ủy Hà Nội, đặc biệt là Đảng bộ cơ sở Thanh Oai. Nếu cứ rạch ròi, theo đúng nguyên tắc khô cứng, không ai làm bí thư xã đến tuổi 70, lại làm liên tục đến 7 khóa, 23 năm liền. Nếu cơ sở bầu, dù phiếu cao, nhưng Đảng bộ cấp trên không chuẩn y, vì những lý do cũng rất chính đáng như đã nêu trên, thì ông Bí thư Đảng ủy xã Quang Văn Thỉnh cũng không thể tại vị được. Trong cuộc gặp gỡ của Tổng Giám đốc cùng các cán bộ Đài Tiếng nói Việt Nam và các cán bộ của Trung ương Đoàn qua các thời kỳ kỳ, nhân dịp kỷ niệm ngày thành lập Đoàn 26-3, trong đó có nhiều cán bộ đang tại vị của huyện Thanh Oai, tôi có nhắc đến Thanh Văn và nói rất thật rằng, nếu tôi phục ông Quang Văn Thỉnh một, thì phục Đảng bộ Thanh Oai và Thành Ủy Hà Nội mười. Bởi ở đó, Đảng đã biết nghe dân, đã phục tùng theo ý nguyện của dân. Tôi cũng rất mừng khi gần đây, Bí thư Thành Ủy Hà Nội Phạm Quang Nghị đã cho nghiên cứ mô hình phát triển và quản lý xã hội của Thanh Văn, để có thể nhân rộng ra trên các địa bàn Hà Nội và cả nước. Như thế sẽ rất hay. Ngay cả tuổi cán bộ cũng vậy. Có người tuổi cao mà vẫn trẻ. Có người chưa đến 40 mà đã già. Già hay trẻ không phải ở tuổi tác mà ở sức nghĩ, ở tầm nhìn ở khả năng sáng tạo và tổ chức thực hiện công việc. Ở những trường hợp đặc biệt như “ông Thỉnh Thanh Văn”, nếu được hỏi ý dân, tôi cũng sẵn sàng và rất hạnh phúc nếu được bỏ lá phiếu bầu ông tiếp tục tại vị…
Tôi cũng có đọc loạt bài trên báo “Nông nghiệp Việt Nam” và nhiều báo giấy báo mạng về “Hiện tượng Thanh Văn”. Đặc biệt rất ấn tượng khi báo dẫn ý kiến của một nhóm nghiên cứu đã so sánh ông Bí thư Đảng uỷ xã Thanh Văn Quang Văn Thỉnh với Bí thư Tỉnh ủy Vính Phú Kim Ngọc. Có người còn cho rằng, ông Quang Văn Thỉnh có phần còn trội hơn cả Kim Ngọc. Thứ nhất Kim Ngọc chỉ là người ủng hộ khởi xướng của dân. Còn Quang Văn Thỉnh vừa khởi xướng vừa cùng dân thực hiện thành công. Thứ hai, Kim Ngọc chủ yếu là cải cách về kinh tế, mang tính tồn tại. Trong khi đó, cuộc cải cách của Quang Văn Thỉnh ở Thanh Văn không chỉ thay đổi về kinh tế mà quan trọng là xây dựng thành công một mô hình mới, một văn hoá mới. Thứ ba, Kim Ngọc được đánh giá khi sự việc đã là quá khứ, còn Quang Văn Thỉnh - Thanh Văn tự mình khẳng định bằng hiện tại và tương lai”…
Mọi so sánh đều chỉ là tương đối, bởi rất khập khiễng. Ở trường hợp này lại càng khập khiễng, bởi không thể so sánh đơn giản như thế được. Kim Ngọc ở thời bao cấp. Ông bị “đứt gánh” giữa đường và phải trả bằng cái giá rất đắt vì miếng cơm, manh áo của dân. Ông không có môi trường và bầu khí quyển để thực hiện công cuộc “cải cách” của mình. Còn Quang Văn Thỉnh ở thời đổi mới, mở cửa, lại có chính sách Tam nông của Đảng và Chính phủ khơi gợi, được Đảng bộ cấp trên tạo điều kiện, bằng cách không phản đối, ngăn cản. Đặc biệt, anh được dân tin yêu, ủng hộ và bảo vệ. Dân quần tụ quanh anh, cùng anh thực hiện công cuộc cải cách ở cơ sở. Những việc làm và thành tích cụ thể của Thanh Văn có rất nhiều, nhưng để dễ nhớ, Tiến sĩ Đỗ Quang Tuấn đã khái quát Thanh Văn là xã “7 có”, “3 không”. “7 có” là có khối đoàn kết nhân dân vững chắc với hạt nhân là Đảng bộ xã; có đời sống vật chất khá giả, một bộ phận giầu có, ngày càng ít hộ nghèo; có đời sống văn hóa - tinh thần phát triển; có sinh hoạt dân chủ, công khai; có sự phân phối công bằng, không để tích tụ mâu thuẫn giầu nghèo; có Quỹ Bảo hiểm và Phúc lợi nông dân bền vững; có hệ thống chính trị vững mạnh. Còn “3 không” là: Không mất đoàn kết; không tệ nạn xã hội; không mất trật tự - trị an.
Như vậy, Thanh Văn đã đi trước thực hiện Dân giầu, Xã mạnh, Dân chủ, Công bằng, Văn minh. Đó là một vẻ đẹp đích thực của một mô hình nông thôn mới. Chính sách Tam nông của Đảng và Chính phủ đã thành công ở Thanh Văn. Đặc biệt ở đây, những người nông dân từ 60 tuổi trở lên còn được nhận lương hưu. Mức lương là 400.000 đồng một tháng. Hiện nay toàn xã có gần 600 bà con nông dân có khoản lương hưu này. Đấy là điều không nơi nào làm được. Thương dân và vĩ đại đến như Kim Ngọc cũng không làm được.
Riêng điều này thì tôi xin kính cẩn ngả mũ vái ông Bí thư Đảng ủy xã Quang Văn Thỉnh. Nếu địa phương nào cũng làm được như ông, nếu vị cán bộ nào cũng làm được như ông thì đất nước này đã thực sự đổi khác…
SONG TOÀN VÂN ghi
Trần Quốc Thường @ 10:58 28/03/2014
Số lượt xem: 320
- Hôm nay, thế giới thay đổi vì bài diễn văn vĩ đại nhất của Putin (19/03/14)
- Nhiều chính sách quan trọng có hiệu lực từ tháng 3/2014 (11/03/14)
- Tướng Ngọ qua đời:"Nghi can duy nhất chết sẽ đình chỉ vụ án" (19/02/14)
- Ngày xuân bàn về chữ THỌ và MỪNG THỌ. (26/01/14)
- Thưởng Tết: “Kẻ khóc người cười” (22/01/14)

Các ý kiến mới nhất